Sau khoảng một năm học tiếng Anh vài buổi mỗi tuần ở lớp, việc một trẻ mầm non hiểu được khá nhiều nhưng mới nói từ đơn, cụm từ quen và vài câu ngắn là chuyện thường gặp, không phải dấu hiệu con học không vào. Lý do chính nằm ở tổng số giờ tiếp xúc thật ra khá ít, và ở quy luật chung là trẻ hiểu trước rồi mới nói.
Kỳ vọng hợp lý cho năm đầu là con hiểu các lời quen trong lớp, dùng được một số cụm từ đúng tình huống, vui vẻ và tự tin với tiếng Anh. Bài này giải thích vì sao, đưa ra cách nghĩ về kỳ vọng theo chặng học thay vì theo mong muốn của người lớn, và chỉ ra lúc nào sự chậm là đáng để trao đổi thêm.
Một năm học ở lớp thật ra là bao nhiêu giờ tiếng Anh
Ba mẹ thường nghĩ “một năm” là dài. Nhưng với ngôn ngữ, đơn vị đáng tính là số giờ trẻ thật sự nghe và dùng tiếng Anh. Bảng dưới là ví dụ giả định để thấy quy mô; con số cụ thể của mỗi lớp mỗi khác, ba mẹ có thể tự thay bằng lịch học thật của con:
| Giả định | Cách tính | Kết quả gần đúng |
|---|---|---|
| Lớp ba buổi mỗi tuần, mỗi buổi 40 phút | 3 × 40 phút | khoảng 2 giờ mỗi tuần |
| Năm học khoảng 35 tuần, trừ nghỉ lễ, ốm | 2 giờ × 35 tuần | khoảng 70 giờ mỗi năm |
| Trong một buổi, phần trẻ trực tiếp nghe và nói | Trừ thời gian chuyển hoạt động, chờ lượt | ít hơn con số trên |
| So với tiếng Việt ở nhà | Khoảng 10 giờ thức có tiếp xúc ngôn ngữ mỗi ngày | 70 giờ chỉ bằng chừng một tuần tiếng Việt |
Phép tính thô này không nhằm làm ba mẹ nản, mà để đặt kỳ vọng đúng tầm. Một năm học ở lớp tương đương một lượng tiếp xúc rất nhỏ so với những gì trẻ cần để nói thành thạo một ngôn ngữ. Trong khung thời lượng đó, việc con hiểu được nhiều lời quen và nói được những cụm từ đầu tiên là một kết quả tốt.
Phép tính cũng cho thấy vì sao những gì diễn ra ngoài lớp, như bài hát con nghe ở nhà, câu chuyện ba mẹ đọc cùng con, có sức nặng đáng kể. Thêm vài chục giờ tiếp xúc có tương tác trong năm đã là thay đổi đáng kể so với tổng nền nhỏ như vậy.
Vì sao trẻ hiểu nhiều mà nói ít
Ở mọi người học ngôn ngữ, phía hiểu đi trước phía nói. Trẻ học tiếng mẹ đẻ cũng vậy: một em bé hiểu “đi tắm nào” và chạy vào nhà tắm từ rất lâu trước khi tự nói được câu đó. Với ngôn ngữ thứ hai học ở lớp, khoảng cách giữa hiểu và nói còn rõ hơn, vì trẻ có ít dịp phải nói và luôn có tiếng Việt làm lối thoát.
Stephen Krashen trong các công trình đầu thập niên 1980 cho rằng năng lực nói hình thành chủ yếu từ việc tiếp nhận nhiều đầu vào hiểu được, và việc ép nói sớm không làm nhanh hơn quá trình đó. Không phải mọi luận điểm của Krashen đều được giới nghiên cứu chấp nhận, nhiều người nhấn mạnh thêm vai trò của tương tác và của việc tập nói. Nhưng điểm chung được thừa nhận rộng là trẻ cần nghe đủ nhiều trước khi lời nói tự nhiên xuất hiện.
Thêm một lý do nữa ít được nói tới: nói là việc có rủi ro với trẻ. Nói sai trước bạn, nói mà cô không hiểu, nói rồi bị bảo nói lại, đều là trải nghiệm trẻ có thể né. Một trẻ cẩn thận, kỹ tính thường chờ đến khi khá chắc mới mở miệng. Những trẻ này hay “im lâu rồi nói một lúc nhiều”, khiến ba mẹ lo suốt một thời gian rồi bất ngờ khi con nói cả câu.
Con nhà người ta nói nhiều hơn: những yếu tố làm trẻ khác nhau
Tính cách. Trẻ hướng ngoại, thích thử, ít sợ sai thường nói sớm hơn, nói sai nhiều hơn và vì vậy cũng được sửa, được luyện nhiều hơn. Trẻ trầm tính có thể hiểu nhiều không kém nhưng thể hiện muộn hơn. Đây là khác biệt về cách học, không phải về khả năng.
Nền tiếng Việt. Trẻ có vốn tiếng Việt phong phú, quen kể chuyện, quen trò chuyện qua lại với người lớn thường chuyển những kỹ năng giao tiếp đó sang tiếng Anh dễ hơn. Jim Cummins gọi điều này là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các ngôn ngữ: năng lực nền ở ngôn ngữ thứ nhất hỗ trợ ngôn ngữ thứ hai.
Tiếp xúc ngoài lớp. Trẻ có anh chị đang học tiếng Anh, có người nhà dùng tiếng Anh, có thói quen đọc truyện tranh tiếng Anh với ba mẹ sẽ có nhiều giờ tiếp xúc hơn hẳn trẻ chỉ học ở lớp, dù cùng lớp cùng cô.
Thời điểm bắt đầu và độ đều đặn. Một trẻ học đều cả năm khác một trẻ nghỉ nhiều vì ốm, về quê, chuyển chỗ ở. Ngắt quãng dài làm trẻ phải làm quen lại, nhất là với trẻ nhỏ.
Mối quan hệ với giáo viên. Trẻ gắn bó với cô thường muốn nói với cô. Một năm có thay giáo viên giữa chừng thường có vài tuần trẻ nói ít đi rõ rệt.
Kỳ vọng theo chặng học thay vì theo mong muốn
Thay vì đặt câu hỏi “con đã nói được chưa”, ba mẹ có thể nhìn kỳ vọng theo chặng học. Bảng dưới mô tả những gì thường gặp ở trẻ mầm non học tiếng Anh ở lớp vài buổi mỗi tuần. Đây không phải chỉ tiêu, và trẻ có thể ở sớm hoặc muộn hơn vài tháng mà vẫn bình thường:
| Chặng học | Thường thấy ở phía hiểu | Thường thấy ở phía nói và thái độ |
|---|---|---|
| Vài tháng đầu | Hiểu lời chào, lời nhắc quen trong lớp khi có cử chỉ đi kèm | Im lặng nhiều, hát theo vài chữ, hay nói tiếng Việt với cô |
| Cuối năm đầu | Hiểu lời quen không cần cử chỉ, theo được truyện ngắn có tranh | Từ đơn, cụm có sẵn đúng lúc (“my turn”, “finished”), vài câu hai ba từ |
| Trong năm thứ hai | Hiểu câu dài hơn, hiểu câu hỏi về câu chuyện | Tự ghép câu ngắn, còn sai; chủ động hỏi, kể vài ý nối nhau |
| Năm thứ ba trở đi | Hiểu phần lớn lời giáo viên trong chủ đề quen | Kể lại chuyện đơn giản, trả lời “vì sao” bằng câu ngắn, tự tin trình bày trước nhóm nhỏ |
Chặng học đo bằng thời gian tiếp xúc, không bằng tuổi. Một bé năm tuổi mới bắt đầu sẽ đi qua chặng “vài tháng đầu” giống như bé ba tuổi mới bắt đầu, chỉ có thể nhanh hơn một chút vì đã có nền tiếng Việt và khả năng tập trung tốt hơn.
Những kỳ vọng nên bỏ ngay từ đầu
Một số kỳ vọng phổ biến khiến cả ba mẹ lẫn trẻ mệt mỏi mà không đem lại gì. Bỏ chúng đi giúp cả nhà nhìn tiến bộ của con công bằng hơn:
- “Học sớm thì sẽ nói như người bản xứ.” Không lớp học vài giờ mỗi tuần nào đảm bảo điều đó. Học sớm có lợi về độ quen tai và phát âm, nhưng mức thành thạo cuối cùng phụ thuộc vào tổng tiếp xúc trong nhiều năm.
- “Con phải dịch được.” Dịch là kỹ năng riêng, khó với cả người lớn. Một bé lấy đúng cây bút đỏ khi nghe “red” nhưng lúng túng khi bị hỏi “red là gì” vẫn là bé đã hiểu từ đó; bé chỉ chưa quen việc chuyển qua lại giữa hai thứ tiếng.
- “Học một năm phải nói được câu dài.” Như phép tính ở trên, một năm ở lớp là lượng tiếp xúc nhỏ. Câu dài đến sau, khi nền nghe đã đủ dày.
- “Con phải biết đọc biết viết tiếng Anh.” Ở tuổi mầm non, làm quen âm và chữ là hoạt động nhẹ dành cho trẻ lớn. Chương trình tiếng Anh mầm non đặt trọng tâm vào nghe và nói.
- “Con phải nói được khi người lớn yêu cầu.” Trẻ hiếm khi thích trình diễn theo lệnh. Năng lực thật lộ ra trong lúc chơi và lúc có nhu cầu, không phải lúc bị bảo “nói tiếng Anh cho cô chú nghe đi”.
Bỏ những kỳ vọng này không có nghĩa là hạ thấp mục tiêu. Nó có nghĩa là đặt mục tiêu đúng chỗ: một nền nghe vững, những cụm từ dùng được, và một đứa trẻ thích tiếng Anh. Đó là những thứ khó có lại nếu bị làm hỏng ở tuổi mầm non.
Khi nào sự chậm là đáng để trao đổi thêm
Phần lớn trường hợp “học một năm chưa nói nhiều” là bình thường. Tuy vậy, có vài tình huống ba mẹ nên chủ động trao đổi với giáo viên để cùng tìm hiểu. Thứ nhất là khi phía hiểu cũng không có tiến triển: sau nhiều tháng con vẫn chưa làm theo được những lời nhắc quen nhất trong lớp. Thứ hai là khi con có dấu hiệu sợ hãi, né tránh lớp học kéo dài. Thứ ba là khi ở lớp giáo viên thấy con khá tốt nhưng ở nhà con hoàn toàn không đụng tới tiếng Anh, hoặc ngược lại; khác biệt lớn giữa hai nơi thường có lý do đáng tìm hiểu.
Khi trao đổi, ba mẹ mang theo những quan sát cụ thể sẽ giúp giáo viên nhiều hơn những cảm nhận chung. Giáo viên có thể điều chỉnh: mời con nói qua trò chơi đôi thay vì trước cả lớp, cho con vai trò không cần nói nhiều trong hoạt động nhóm, gợi ý ba mẹ vài hoạt động ngắn ở nhà.
Có một ranh giới cần nói rõ. Nếu ba mẹ thấy con chậm cả ở tiếng Việt so với bạn cùng tuổi, ít giao tiếp bằng mắt, ít đáp lại khi được gọi tên, thì câu hỏi không còn nằm ở lớp tiếng Anh. Khi đó nên đưa con đi gặp chuyên gia về phát triển hoặc ngôn ngữ trẻ em để được đánh giá đúng, vì việc học thêm một ngôn ngữ không phải nguyên nhân và cũng không phải cách giải quyết.
Ba mẹ làm gì trong lúc chờ con nói
Chờ không có nghĩa là ngồi yên. Ba mẹ có thể làm cho quãng chờ này giàu hơn bằng những việc nhỏ, đều đặn, không gây áp lực. Đọc to một cuốn truyện tranh tiếng Anh đơn giản vài lần một tuần, chỉ tranh, đổi giọng nhân vật, dừng ở câu lặp cho con đoán. Hát cùng con những bài con học ở lớp. Dùng vài lời tiếng Anh quen trong sinh hoạt hằng ngày như “time to eat”, “shoes on”, “good night”, mà không đòi con đáp lại bằng tiếng Anh.
Điều ba mẹ cần tránh là biến mỗi khoảnh khắc thành bài kiểm tra. Câu hỏi “cái này tiếng Anh là gì” lặp đi lặp lại, nhất là trước người khác, dạy con rằng tiếng Anh là thứ để bị hỏi. Thay vào đó, ba mẹ tự nói từ tiếng Anh như một lựa chọn tự nhiên: “Con muốn quả táo hả? An apple. Ngon quá.” Con nghe, và đến lúc sẵn sàng con sẽ dùng.
Cuối cùng, đặt mốc nhìn lại theo học kỳ chứ không theo tuần. Cuối mỗi học kỳ, ba mẹ đặt những gì thấy ở con cạnh bảng chặng học ở trên và tự hỏi con đang ở chặng nào ở phía hiểu, chặng nào ở phía nói. Hai câu trả lời thường lệch nhau, và chính chỗ lệch đó cho biết nên kiên nhẫn ở mặt nào. Các lớp tiếng Anh của Global Star khuyến khích ba mẹ đồng hành theo đúng tinh thần đó: kiên nhẫn, đều đặn và nhìn tiến bộ theo chặng đường của chính con.
Câu hỏi thường gặp
Bé học tiếng Anh bao lâu thì nói được câu?
Không có mốc chung. Với trẻ học ở lớp vài buổi mỗi tuần, câu ngắn hai ba từ thường xuất hiện trong năm đầu đến năm thứ hai, nhưng khác biệt giữa các trẻ rất lớn. Tổng giờ tiếp xúc, tính cách và nền tiếng Việt đều ảnh hưởng.
Con học cả năm mà chỉ hát được vài bài thì có phí không?
Không phí nếu con hiểu được lời quen trong lớp, vui vẻ khi đến lớp và thỉnh thoảng dùng từ tiếng Anh đúng lúc. Đó là nền nghe và thái độ, phần khó xây nhất. Bài hát cũng là nơi con giữ sẵn những khuôn câu để dùng sau.
Có nên cho con học thêm nhiều buổi để nhanh nói hơn không?
Tăng thời lượng có ích khi con vẫn vui và không mệt. Nhưng thêm buổi mà con chán hoặc kiệt sức thì phản tác dụng. Thường hiệu quả hơn là thêm những lần tiếp xúc ngắn, nhẹ nhàng ở nhà như đọc truyện, hát cùng con.
Ba mẹ không nói được tiếng Anh thì con có chậm hơn không?
Không nhất thiết. Ba mẹ vẫn có thể đọc truyện tranh đơn giản, mở bài hát, hỏi con về lớp học và tỏ ra hứng thú với những gì con kể. Thái độ tích cực của gia đình với tiếng Anh giúp con nhiều hơn việc ba mẹ phát âm chuẩn.
Khi nào cần đưa con đi gặp chuyên gia thay vì chỉ chờ?
Khi con chậm cả tiếng Việt so với bạn cùng tuổi, ít đáp lại khi được gọi, ít giao tiếp bằng mắt hoặc có biểu hiện khác thường trong giao tiếp. Những dấu hiệu này cần chuyên gia về phát triển trẻ em đánh giá, không liên quan tới việc học tiếng Anh.